Cam kết, mục đích và tin tưởng
Bạn thân mến,
Những ngày qua, trong Lễ kỷ niệm Vàng, chúng ta đã chiêm nghiệm hai vấn đề sâu sắc của đời sống tâm linh.
- Trong
Trái tim Chia đôi, chúng ta đã tìm hiểu cuộc chiến muôn thuở giữa
ham muốn và khát vọng. Đó là một người tìm kiếm biết điều gì là đúng đắn,
nhưng lại bị gục ngã vào thời điểm cần đưa ra cam kết.
- Trong
Khơi dậy Mục đích sống, chúng ta đã xem xét sự tê liệt lạ lùng của
một linh hồn dù có đủ năng lượng cần thiết nhưng lại đánh mất mục đích, đánh
mất lý do để tiến về phía trước.
Nhưng vẫn còn một kẻ thù thứ ba; kẻ không phân ly trái tim
hay làm ngọn lửa ngủ quên, mà tinh vi hơn. Đó là kẻ chờ cho đến khi trái tim đưa
ra cam kết, khi ngọn lửa được thắp lên, và việc thực hành mang lại hiệu quả, mới
thì thầm: Bạn có chắc không?
Kẻ thù ấy chính là sự hoài nghi. Trong ba kẻ thù, có lẽ đây là
kẻ nham hiểm nhất, vì nó không tấn công những kẻ thất bại mà nhắm vào những người
đang thành công nhưng lại không dám tin vào thành công ấy.
Không tin tưởng vào trải nghiệm của chính mình
Một người dẫn thiền đã đến gặp và chia sẻ với tôi về tình trạng
của một chị ở trung tâm của mình. Chị ấy đã thiền suốt 11 năm, 11 năm bền bỉ. Chị
đã có được sự tĩnh lặng với thiền buổi sáng, lòng kiên nhẫn dần thay thế thói
quen phản ứng trước kia, và khả năng đối diện với những khó chịu mà không cần
tìm đến chiếc điện thoại.
Thế nhưng chị ấy lại có một nỗi bất an âm thầm của một người
đứng giữa khu vườn mà vẫn tự hỏi liệu mùa xuân đã về thật hay chưa: “Những trải
nghiệm này có thật không, hay mình chỉ đang tự lừa dối bản thân?”
Một abhyasi khác đã muốn nói rằng: “Chị ơi, nếu tự lừa dối bản
thân mà mang lại 11 năm bình an nội tâm, thì chị nên viết một cuốn sách. Những
người còn lại chúng tôi thì đang tự lừa dối mình để bị lo lắng và lại cho đó là
hiện thực.”
Hãy suy ngẫm về điều này: nếu cái gọi là “tự huyễn hoặc” này
đã mang lại 11 năm bình yên, chẳng lẽ nó không xứng đáng nhận được một chút tin
tưởng? Và tại sao chúng ta lại không nghi ngờ những lo lắng của mình dễ dàng
như thế, dù chúng chẳng mang lại gì ngoài sự bất ổn?
Chị ấy đã có mọi thứ, ngoại trừ một điều khiến những thứ này
trở nên có ý nghĩa: tin tưởng vào trải nghiệm của chính mình.
Bây giờ, hãy xem xét tình huống của chị ấy dưới góc độ những
gì chúng ta đã thảo luận. Trái tim chị không bị phân ly; chị đã lựa chọn sáng
suốt, và ngọn lửa bên trong đã được thắp lên. Chị ấy thiền vào mỗi sáng, và
không giống như người đàn ông 50 tuổi trong Trái tim Chia đôi, chị ấy không
bị giằng xé giữa khát vọng và ham muốn.
Chị ấy cũng không như người phụ nữ trẻ trong Khơi dậy Mục
đích sống, người đã đánh mất động lực. Ngược lại, chị ấy có kỷ luật, có mục
đích và có những kết quả tích cực.
Thế nhưng chị ấy lại bị tê liệt vì sự hoài nghi đã len lỏi
vào. Sự trì trệ của chị ấy không phải do thiếu kỷ luật hay thiếu khát vọng, mà do
hoài nghi; một sự hoài nghi tinh vi, lặng lẽ và gây mất ổn định.
Đây là lý do tại sao chúng ta cần cho hoài nghi một thảo luận
riêng. Trong khi ham muốn nhắm vào ý chí, và lười biếng nhắm vào năng lượng,
thì hoài nghi lại nhắm vào một điều cơ bản hơn nhiều: khả năng nhận ra sự chuyển
hóa của chính mình.
Chất độc vi tế của sự hoài nghi
Hoài nghi khác với tò mò, bởi tò mò mở ra những cánh cửa
trong khi hoài nghi đóng sập cửa, rồi đứng ngoài phàn nàn về sự ngột ngạt.
Sahaj Marg phân biệt rõ giữa Viveka – sự thắc mắc sáng suốt dẫn
đến trí tuệ, và Sanshay – sự hoài nghi làm xói mòn, đầu độc nhận thức.
Hoài nghi làm xói mòn lòng tin, hỏi: “Mình có khả năng không?”. Nó che mờ nhận thức.
Trong Trái tim Chia đôi, chúng ta đã suy ngẫm về hình
ảnh hai con sói bên trong mình, một con đại diện cho phẩm tính cao thượng, và
con kia là những thôi thúc thấp kém. Chúng ta hiểu rằng con nào được nuôi dưỡng,
cuối cùng sẽ thắng.
Hoài nghi không phải là con nào trong hai con sói đó. Nó là
giọng nói thủ thỉ với bạn rằng việc nuôi dưỡng chúng là vô ích. Nó là kẻ ngoài
cuộc và thì thầm với bạn rằng cả hai con sói đều không có thật, rằng sự chăm
sóc bạn dành cho chúng là ảo tưởng, và sự trưởng thành tâm linh chỉ là chuyện bịa
đặt. Đây là lý do tại sao thứ thuốc độc này vi tế hơn ham muốn hay sự trì trệ.
Nó không đối đầu với khát vọng mà phá hủy chính nền tảng nơi khát vọng tựa vào.
Có một đối thoại tuyệt đẹp cho thấy lãnh địa của hoài nghi thâm
sâu đến mức nào. Khi Babuji đến Vùng Trung tâm, cảnh vực vi tế nhất của trải
nghiệm tâm linh, Ngài không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào ở đây vốn được gắn với
sự giác ngộ: không phúc lạc, không linh ảnh, hay bất kỳ loại ánh sáng nào. Với
một một tâm trí vốn quen với những điều đặc biệt thì ở đây cảm tưởng như chẳng
có gì. Ngài nói với Lalaji: “Những ngày trước đây của con tốt hơn nhiều. Trạng
thái này cảm giác như không có gì.” Lalaji chỉ hỏi: “Ta có nên lấy đi trạng
thái này không?”, và Babuji đáp lại ngay lập tức: “Không, thưa Đấng Tối cao. Nếu
Ngài làm như vậy, đây sẽ là hơi thở cuối cùng của con.”
Trong trạng thái đó, Babuji không thấy vẻ đẹp hay sự hấp dẫn,
cũng không có bất kỳ cảm giác thích thú nào. Nhưng người đã nếm nó thì không thể
tồn tại nếu thiếu nó. Đây là điều nằm ngoài uy quyền của hoài nghi: một trạng
thái đan chặt vào bản thể đến mức nếu loại bỏ nó đồng nghĩa với chấm dứt sự tồn
tại. Linh hồn không tranh luận về điều mình đã biết.
Điều này giống như việc phát hiện ra trục đối xứng hoàn hảo tại trung tâm của bản thể. Nó không hấp dẫn hay kích thích các giác quan. Nhưng một khi sự cân bằng nội tại được nhận ra, cuộc sống trở nên an ổn và trọn vẹn. Loại bỏ trạng thái này sẽ làm sụp đổ hoặc ngả nghiêng trục đối xứng, dẫn đến sự bất ổn cá nhân.
Cấu trúc của niềm tin
Từ con-fidare trong tiếng Latin có nghĩa là “với sự
tin tưởng”. Nó không bảo đảm sự thành công, mà báo hiệu một sự tin tưởng sâu sắc
rằng bạn có thể vượt qua bất kỳ điều gì cuộc sống mang đến.
Hoài nghi làm vụn vỡ lòng tin ấy. Từ “dubius” trong tiếng
Latin có gốc nghĩa là “hai”, gợi lên tính hai mặt hoặc sự phân mảnh. Một khi
tâm trí bị phân chia thành người thực hiện và kẻ chỉ trích, điều này giống như
là bạn đã thuê một vị quan tòa nội tâm làm việc không biết mệt mỏi.
Hoài nghi thể hiện bản thân mình là người đi tìm sự thật, và
khi một hành động do dự gặp thất bại, hoài nghi có bằng chứng rằng nó đã đúng: “Mình
đã bảo rồi mà!” Như vậy, hoài nghi tự tạo bằng chứng bằng việc đưa ra những kết
quả khẳng định quan điểm của nó; một trò xảo quyệt của kẻ luôn nhận mình là người
đi tìm sự thật.
Trong Khơi dậy Mục đích sống, chúng ta đã thảo luận rằng
lười biếng không phải là thiếu năng lượng mà là năng lượng không có mục tiêu. Hoài
nghi cũng vận hành theo cách tương tự. Hoài nghi không phải là thiếu vắng trải
nghiệm mà trải nghiệm thiếu sự tin tưởng. Lười biếng có nhiên liệu nhưng không
có lửa. Hoài nghi có cả nhiên liệu và lửa nhưng cứ băn khoăn ngọn lửa đó có thật
không, và chính sự băn khoăn ấy khiến ngọn lửa tắt ngấm.
Kinh Bhagavad Gita đã đưa ra lời cảnh báo nghiêm khắc: Samshayatma vinashyati – kẻ hoài nghi sẽ hủy hoại chính mình.
Và nghi ngờ người dẫn đường dẫn đến nghi ngờ chính sự hướng
dẫn bên trong.
Mỗi lần hoài nghi là một lần bạn rút một sợi len trên chiếc
áo của mình và giật mình khi bị lạnh run người. Bạn rút dần rút mòn chiếc khung
ấy, cho đến khi không còn lại gì.
Còn khiêm nhường thì sao? Khiêm nhường không phải là hoài
nghi. Khiêm nhường nói: “Không phải điều gì mình cũng biết,” còn hoài nghi nói:
“Mình không có đủ khả năng.” Một bên mở cánh cửa dẫn đến sự trưởng thành, bên
kia đóng sập cửa lại và nuốt mất chìa khóa.
Hãy nhớ lại hình ảnh ẩn dụ cây cầu trong Trái tim Chia
đôi. Chúng ta đã nói về việc những thất bại lặp đi lặp lại tạo ra những vết
rạn li ti trong ý chí. Đó là những tổn thương vô hình tích tụ cho đến khi chỉ cần
một giọt nước cũng đủ làm tràn ly. Hoài nghi cũng ăn mòn lòng tin theo cách
tương tự. Mỗi lần một trải nghiệm bị chối bỏ, mỗi khi giọng nói bên trong thủ
thỉ “đó chỉ là tưởng tượng”, thì một vết rạn li ti lại xuất hiện trong cấu trúc
của niềm tin. Nhìn bề ngoài, niềm tin có vẻ vẫn kiên cố, nhưng tổn thương đã xuất
hiện bên trong. Và rồi một ngày, một chút do dự cũng đủ làm cho niềm tin vụn vỡ.
Không phải vì sự thực hành thất bại, mà vì những chối bỏ tích tụ lại cuối cùng
làm sụp đổ nền móng.
Đây là nền móng vỡ vụn; không phải vì thất bại, mà bởi từ chối
công nhận thành công.
Lòng can đảm: Thuốc giải cho hoài nghi
Nếu bạn đối đầu trực diện với hoài nghi, nghĩa là bạn đang
chiến đấu trên lãnh địa của nó, sân nhà của nó. Đánh bại hoài nghi trên sân nhà
của nó là điều rất khó. Tâm trí tranh luận với hoài nghi thì đã nắm chắc phần
thua, bởi hoài nghi có nguồn vũ khí vô tận và hoàn toàn không quan tâm đến việc
thỏa hiệp.
Hãy xem hoài nghi như một hành khách vĩnh viễn trên chuyến
xe cuộc đời bạn. Nó có thể lảm nhảm, và thậm chí hăm dọa. Nó có thể dự đoán 16
cách khác nhau khiến cho mọi việc trở nên tồi tệ, nhưng đừng bao giờ để nó chạm
vào vô lăng.
Nói cách khác, hoài nghi có thể báo động, cảnh báo hoặc bình
luận, nhưng đừng để nó dẫn dắt.
Trong Trái tim Chia đôi, chúng ta thấy rằng cuộc chiến
giữa khát vọng và ham muốn không thể thắng bằng cách chống lại sự lôi kéo thấp
kém, mà bằng cách gia tăng niềm khao khát cao thượng cho đến khi nó bao trùm tất
cả. Với hoài nghi cũng vậy. Bạn không thể đánh bại nó bằng cách tranh luận, mà
bằng cách tích lũy thật nhiều trải nghiệm trực tiếp đến mức sự tranh luận trở
nên vô nghĩa. Người từng nếm mật ong thì không cần tranh luận xem vị ngọt có thật
không.
Vì vậy, thuốc giải cho hoài nghi vừa là trải nghiệm trực tiếp,
vừa là lòng can đảm. Lòng can đảm cho phép hoài nghi tồn tại nhưng từ chối trao
cho nó quyền chối bỏ hành động. Trải nghiệm trực tiếp khiến hoài nghi tan biến hoàn
toàn.
Mặt khác, niềm tin vận hành không giống với cả hoài nghi và sự
chắc chắn. Niềm tin không tranh luận, mà chỉ đơn giản đứng trên vùng đất mình
đã đi qua và nói: nơi này vững chãi.
Hành trình trưởng thành
Tâm linh, về cốt lõi, là nghệ thuật trải nghiệm những điều
chúng ta tin tưởng bấy lâu nay. Chúng ta bắt đầu với những từ vay mượn như “Thượng
đế là tình yêu”, hay “linh hồn là bất tử”. Đây chắc chắn là những niềm tin đẹp
đẽ, nhưng nó chỉ là những tờ giấy ghi nợ. Chừng nào khoản thanh toán chưa đến,
hoài nghi sẽ vẫn thì thầm: “Nếu tờ giấy đó vô giá trị thì sao?”.
Trong Khơi dậy Mục đích sống, chúng ta thấy rằng khi
một người bị cho là lười biếng gặp được điều thực sự yêu thích, họ sẽ làm việc không
biết mệt mỏi, quên ăn quên uống, và làm ngày làm đêm mà không một lời than vãn.
Điều này cho thấy năng lượng luôn ở đó, chỉ là thiếu lửa. Ở đây cũng vậy. Khi
trải nghiệm chân thật đến, khi người hành thiền cảm nhận được một điều gì đó
không thể nhầm lẫn nơi lồng ngực, thì cuộc tranh luận về việc liệu thiền có tốt
hay không bỗng trở nên nực cười. Trải nghiệm sẽ luôn đến, chỉ là thiếu sự tin
tưởng.
Hành trình từ niềm tin đến trải nghiệm tuân theo một tiến
trình nghiêm ngặt. Trước tiên, chúng ta cảm nhận. Một điều gì đó khuấy động
trong trái tim trong lúc thiền; không phải là một ý niệm về Đấng Thiêng liêng
mà là một cuộc hạnh ngộ đầy cảm xúc. Nhưng cảm nhận vẫn chỉ là một vị khách, đến
rồi đi.
Vì vậy, sự tiếp cận vẫn tiếp tục. Khi cảm nhận đủ thường
xuyên, chúng ta bắt đầu trở thành. Sự kiên nhẫn vốn chỉ xuất hiện trong lúc thiền
giờ đây hiện diện ngay cả trong lúc chờ đèn giao thông. Sự tĩnh lặng vốn chỉ là
một vị khách nay trở thành thường trú nhân, và cuối cùng, trở thành công dân.
Rồi một điều gì đó sâu sắc hơn xảy ra. Chúng ta không còn “thực hành” kiên
nhẫn nữa mà trở thành chính sự kiên nhẫn.
Chuỗi trưởng thành ấy bắt đầu từ một quyết định thầm lặng được đưa
ra trước lúc bình minh: Mình sẽ thiền. Không phải vì thích, mà bởi một điều gì
đó trong ta đã quyết, và quyết định ấy không cho phép sự thỏa hiệp. Quyết tâm dẫn
đến thực hành, cho dù là việc gì, ở đâu, khi nào và ra sao! Thực hành dẫn đến
trải nghiệm. Trải nghiệm tạo ra một niềm tin mà không một lập luận nào có thể lung
chuyển, bởi vì nó không được xây dựng trên lập luận. Nó được xây dựng từ sự
xác nhận của chính trái tim.
Mỗi tối, thông qua thanh lọc, chúng ta làm thông thoáng cảnh
quan bên trong. Và đây là điều làm thay đổi mọi thứ: hoài nghi cần một câu chuyện
phức tạp để tồn tại. Giản lược cảnh quan bên trong khiến hoài nghi đơn giản là “chết
đói”. Nó cần sự kịch tính giống như lửa cần nhiên liệu. Loại bỏ tính kịch, hoài
nghi không có gì để đốt.
Bây giờ, hãy nhớ lại hình ảnh cái kén và con bướm trong Trái
tim Chia đôi. Người đàn ông đã cắt cái kén để giúp con bướm chui ra dễ dàng
hơn đã tạo ra một con bướm với đôi cánh non nớt chẳng thể nào bay nổi. Hoài
nghi cũng tạo ra sự tàn phá tương tự, nhưng theo hướng ngược lại. Thay vì kết
thúc cuộc đấu tranh quá sớm, hoài nghi bảo con bướm rằng đôi cánh mới mọc của
nó là không thật. Mặc dù cuộc đấu tranh đã kết thúc, đôi cánh đã hoàn chỉnh và
có khả năng bay lượn, nhưng hoài nghi nói: “Bạn có chắc là mình bay được không?
Có lẽ bạn nên ở lại trong kén thêm một thời gian nữa cho an toàn.” Con bướm nào
nghe theo giọng nói đó sẽ không bao giờ bay được. Không phải vì nó không biết
bay, mà bởi vì nó đã bị thuyết phục rằng đôi cánh của mình chỉ là tưởng tượng.
Nền tảng vững chắc
Bây giờ, hãy trở lại với chị abhyasi đã thiền suốt 11 năm.
Chị ấy đã tin tưởng. Rồi chị cảm nhận được điều gì đó: sự điềm tĩnh, kiên nhẫn,
bình thản. Chị đã bước qua ngưỡng cửa đầu tiên mà không hề hay biết. Chính những
cảm nhận ấy đã định hình tính cách của chị. Chị cũng đã bước qua ngưỡng cửa thứ
hai. Nhưng chị vẫn đứng đó và hỏi: “Điều này có thật không?”.
Hoài nghi không ngăn cản sự chuyển hóa của chị, nhưng nó đã thực
hiện một điều tinh vi hơn: ngăn cản chị thừa nhận sự chuyển hóa của mình. Một
tâm trí hoài nghi sẽ khước từ mọi trải nghiệm khi chúng đến: “Đó chỉ là cảm
giác thư giãn. Chỉ là tưởng tượng.” Hãy nhận ra sự chối bỏ này như nó là: không
phải là thông minh, mà là nỗi sợ khoác lên mình chiếc áo blouse phòng thí nghiệm
và giả vờ là khách quan. Chị ấy không cần thêm trải nghiệm. Thứ chị cần là sự tự
tin và lòng can đảm để tin tưởng vào trải nghiệm của chính mình.
Trong Trái tim Chia đôi, chúng ta đã nhắc đến người
tìm kiếm hứa hẹn nhưng thực hiện. Họ quá đề cao cống hiến của mình cho sự giải
thoát nhưng lại xem nhẹ sức ảnh hưởng của các mô thức cũ. Chị abyasi ở đây lại gặp
phải vấn đề ngược lại. Chị ấy đánh giá thấp sự chuyển hóa của mình nhưng lại
quá đề cao quyền lực của hoài nghi. Chị ấy là một người tìm kiếm thành công
nhưng lại đui mù trước thành quả đạt được.
Trái tim phân ly nghi ngờ sự cam kết của nó. Ngọn lửa ngủ quên
nghi ngờ năng lượng của nó. Nền móng rạn nứt nghi ngờ sự vững chắc của nó.
Trong ba sự nghi ngờ trên, sự nghi ngờ cuối cùng là nguy hiểm nhất, bởi vì nền
móng đã có. Công việc đã hoàn tất. Tất cả những gì cần làm là tin tưởng vào thành
quả ấy.
Sự tin tưởng đưa người tìm kiếm đến sự thấu hiểu này không
phải là sự tin tưởng ngây thơ của buổi ban đầu. Cuộc sống sẽ làm tan vỡ sự ngây
thơ của buổi ban đầu ấy, và đó là điều tất định. Nhưng từ đống đổ nát ấy nổi
lên một điều gì đó sâu sắc hơn: sự hiểu biết thầm lặng của kẻ dù từng hoài nghi
nhưng vẫn kiên trì thực hành, người đã đi từ niềm tin đến cảm nhận rồi đến trở
thành, mà không cần một lời khen. Sự tin tưởng về sau này không có nghĩa là bạn
không còn hoài nghi; mà bạn không để hoài nghi dẫn lối.
Mỗi sáng, thiền đưa bạn lặn sâu hơn, vượt lên niềm tin. Mỗi
tối, thanh lọc gột rửa những gì không phải là của bạn. Mỗi hành động của lòng can đảm
làm suy yếu uy quyền của hoài nghi. Bạn đang bước đi trên con đường ấy: thiền buổi
sáng của bạn là minh chứng cho điều đó, và lòng kiên nhẫn của bạn tiết lộ nó. Giờ
đây, trái tim bạn đã bình lặng hơn nhiều năm trước, là bằng chứng cho sự tiến bộ.
Câu hỏi duy nhất còn lại là liệu bạn sẽ tin tưởng vào những gì cuộc đời đã chỉ cho
bạn thấy, hay đợi mãi ở ngưỡng cửa của sự trở thành, để rồi mãi mãi cần thêm một
bằng chứng nữa.
Một phương thuốc cho tất cả
Đây là ba loại thuốc độc ngăn bạn tiến bước trên cuộc hành
trình. Nhưng khi nhìn một cách tổng thể, chúng ta thấy có sự liên kết của cả ba.
Hàng ngàn năm trước, Ashtavakra đã đưa ra một giáo huấn cô đọng
đến mức có thể chứa trong một hơi thở: Vishayanvishavat tyaja. Hãy khước
từ các đối tượng giác quan như khước từ thuốc độc. Theo Ashtavakra, các đối tượng
giác quan chính là thuốc độc; những hấp dẫn của thế giới bên ngoài, sự tiếp diễn
vô tận của những cám dỗ làm phân tâm và khiến linh hồn dính mắc vào những thứ bề
mặt.
Từ chiều sâu chứng ngộ của mình, Babuji đã chỉ ra một loại thuốc
độc còn tinh vi hơn: “Hoài nghi chính là thuốc độc đối với tâm linh.”
Hãy để ý cách hai lời cảnh báo ra đời cách nhau hàng ngàn
năm bổ trợ cho nhau. Ashtavakra cảnh báo về loại thuốc độc xâm nhập từ bên
ngoài: thế giới kéo bạn rời xa chính mình. Babuji cảnh báo về thứ thuốc độc
phát sinh từ bên trong: tâm trí chối bỏ trải nghiệm của chính nó. Một bên làm hư
hoại người tìm kiếm – người nhìn ra bên ngoài để tìm sự thỏa mãn. Bên kia làm mục
nát người tìm kiếm – người đã quay vào bên trong nhưng lại không dám tin vào những
gì mình tìm thấy. Cùng nhau, các Ngài đã vạch ra mối hiểm họa của toàn bộ lãnh địa
tâm linh. Chất độc bên ngoài nói: “Thứ bạn cần tìm ở đằng kia.” Chất độc bên
trong nói: “Những gì bạn tìm thấy là chưa đủ.”
Và còn chất độc ở giữa, sự nặng nề tích tụ khi mục đích sống
cạn kiệt thì sao? Điều này cũng đã được bao hàm. Các đối tượng giác quan (vishayas)
hướng sự chú ý ra bên ngoài. Hoài nghi ăn mòn niềm tin từ bên trong. Và thiếu mục
đích sống, trạng thái trì trệ (tamas) mà chúng ta đã khám phá
trong Khơi dậy Mục đích sống, chính là thứ sẽ lấp đầy khoảng trống
khi cả sức kéo hướng ra ngoài và lòng tin hướng vào trong đều biến mất.
Các hiền triết xưa từng nói: Himmate marda to madade Khuda. Nghĩa là khi ta có đủ lòng can đảm để bước một bước, Đấng Thiêng liêng sẽ bước nốt phần đường còn lại.
Và trong mỗi trường hợp, giây phút chúng ta có được lòng can
đảm ấy, một điều gì đó lớn lao hơn sẽ gặp ta ở nửa chặng đường còn lại. Thuốc
giải cho cả ba chất độc là một: khi niềm tin và lòng can đảm hoà làm một.
